Nguyên nhân của mất trí nhớ

Đã bao nhiêu lần bạn để quên chìa khóa xe ở nhà? Bạn có khó nhớ mình đã ăn gì vào đêm hôm trước không? Bạn có thường quên hẹn hò với người khác không? Nếu những điều này dường như diễn ra hàng ngày và bạn chưa đầy 40 tuổi thì đừng coi thường. Bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng một số trẻ có xu hướng quên chúng nếu chúng sống trong một môi trường căng thẳng. Đây là một câu hỏi không nên xem nhẹ. Dù bạn 16 hay 60, bạn đều phải đấu tranh để mất trí nhớ. Điều quan trọng là phải hiểu nguyên nhân gây mất trí nhớ để bạn biết cách ngăn chặn nó trước khi mất trí nhớ.

Các nhà khoa học đã tóm tắt bảy nguyên nhân chính gây mất trí nhớ, thậm chí có thể dẫn đến suy giảm chức năng nhận thức, như được mô tả dưới đây:

1. Trầm cảm

Khi một người rơi vào trạng thái trầm cảm, Có thể khó tập trung và ghi nhớ nhiều thứ vì sự tập trung hiện tại của họ là những cảm xúc tiêu cực. Trên thực tế, không ai có thể chống lại bệnh trầm cảm. Ngay cả ở những trẻ em thường xuyên bị căng thẳng cũng có thể bị trầm cảm.

Một số điều kiện có thể gây ra trầm cảm, chẳng hạn như cái chết của một người thân yêu. Tình yêu, thiếu sự chăm sóc tại nhà và những lý do khác. Những cảm xúc tiêu cực bao gồm tức giận, sợ hãi và lo lắng cũng có thể khiến bạn nhanh chóng quên và mất tập trung.

2. Đa nhiệm

Hầu hết chúng ta đều quen với việc đa nhiệm và hy vọng hoàn thành càng nhiều công việc càng sớm càng tốt. Mặc dù nhiều người cho rằng đây là điều tốt nhưng thói quen này lâu dài có thể dẫn đến tình trạng lú lẫn, căng thẳng và giảm trí nhớ. Thậm chí, khi đầu óc bạn đang bận làm việc gì đó cũng có thể dẫn đến bệnh tâm thần.

Nếu bạn có dấu hiệu lú lẫn và trí nhớ kém, thì điều duy nhất là có thể. Giải pháp là học cách tập trung vào một việc tại một thời điểm. Hãy nhớ rằng, bộ não của bạn chỉ có thể hoàn thành một vấn đề tại một thời điểm. Điều này có nghĩa là tiếp xúc với nhiều suy nghĩ cùng một lúc có thể gây ra “ô nhiễm tinh thần” và mất trí nhớ.

3. Che giấu cảm xúc thực sự-Một số người thường che giấu nỗi sợ hãi, xấu hổ hoặc tự hào thực sự của họ. Họ có xu hướng bỏ qua các khía cạnh tình cảm của cuộc sống, vì vậy họ không còn nghiện cảm xúc trong suy nghĩ của riêng mình. Ngay cả khi cuộc sống của họ bị đảo lộn, nó sẽ giúp người đó hoàn thành tốt công việc hoặc nghiên cứu. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho trí nhớ của chính mình.

Bộ não được cấu tạo bởi hai phần: bán cầu não trái và bán cầu não phải. Phần não bên trái kiểm soát tư duy logic, trong khi phần bên phải thúc đẩy các hoạt động nghệ thuật và cảm xúc. Khi một người thường xuyên sử dụng cả hai bên não, họ sẽ cảm thấy cân bằng trong suy nghĩ. Điều này cho thấy trí nhớ tốt đồng nghĩa với việc tăng cường khả năng vận động ở cả hai bán cầu.

Để cân bằng cuộc sống, bạn không chỉ phải phát triển tư duy logic mà còn phải nâng cao khả năng của mình. Sáng tạo của mình. Bằng cách này, bạn có thể trở thành một con người toàn diện với các chức năng nhận thức mạnh mẽ.

4. Lạm dụng ma túy (đặc biệt là ma túy)

Một số loại thuốc bị cấm vì những lý do rõ ràng là vô ích. Ưu điểm, nhưng cũng có hại cho sức khỏe. Một số người trở nên nghiện sau vài lần thử thuốc. Một khi cơ thể thích nghi với những chất này, chúng sẽ mất dần thói quen tốt. Trí nhớ, vì những chất này ảnh hưởng đến vùng hải mã và phần não chịu trách nhiệm về các chức năng nhận thức. Kết quả là trí nhớ của bạn sẽ suy giảm.

Hình minh họa: Tuổi thọ.

5. Uống rượu quá mức

Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng lạm dụng rượu có thể gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe và tinh thần, bao gồm cả suy giảm trí nhớ. Nghiện rượu có thể gây suy giảm trí nhớ hoặc mất trí nhớ tạm thời, vì khi cơ thể hấp thụ rượu, chất cồn sẽ ngăn cản oxy lưu thông lên não, đặc biệt là trong rượu. Theo thời gian, tình trạng này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống thần kinh trung ương.

6. Thiếu Thiamin (vitamin B1) – Thiamin là một chất dinh dưỡng thiết yếu giúp chuyển hóa thức ăn thành năng lượng. Ngoài ra, vitamin B1 có nhiệm vụ đảm bảo chức năngHệ thống thần kinh được bình thường hóa. Theo các chuyên gia, những loại vitamin này có nhiều trong não, và chúng duy trì việc sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh ảnh hưởng đến tâm trạng, trí nhớ, vận động và suy nghĩ của con người. Những người không tiêu thụ đủ thiamine trong chế độ ăn uống của họ có thể phát triển hội chứng Wernicke-Korsakoff, một chứng rối loạn thần kinh gây mất trí nhớ ngắn hạn và dài hạn. Để tránh tình trạng này, hãy bổ sung đủ lượng thiamine mỗi ngày, tối đa 1,2 mg cho người lớn (1,4 mg cho nam và 1 mg cho nữ).

7. Ngủ không đủ giấc

Ngủ có thể làm sảng khoái cơ thể và tâm trí của bạn. Đây là thời gian để phục hồi các tế bào và mô của bạn. Ngoài ra, sóng não được tạo ra trong khi ngủ, là cơ chế quan trọng để lưu giữ ký ức trong não. Sóng não cũng có thể chuyển những ký ức này đến vỏ não trước trán, được lưu trữ lâu dài giống như một “ngân hàng ký ức”.

Nếu bạn không ngủ đủ (thiếu ngủ), trí nhớ sẽ bị suy giảm. Nó có thể không di chuyển đến vỏ não trước, có thể dẫn đến chứng hay quên và mất trí nhớ ngắn hạn. Vì vậy, người lớn nên dành ít nhất 7-8 tiếng mỗi ngày để ngủ để cải thiện trí nhớ và ngăn ngừa suy giảm nhận thức.

Thi Tran (tùy tuổi thọ)

Filed under: Các bệnh

Cẩn thận với chứng phình động mạch não

Ngày 11/11, cụ bà 72 tuổi được đưa vào Bệnh viện Đại học Y Hà Nội do buồn ngủ và đau đầu dữ dội. Bác sĩ chẩn đoán rằng túi phình của cô bị vỡ gây chảy máu trong não. Sau khi điều trị, cháu không còn nguy kịch nhưng cơn đau đầu vẫn kéo dài rất lâu, phải phục hồi sức khỏe hàng tháng do di chứng xuất huyết não.

Theo bác sĩ điều trị, chứng phình động mạch não bị vỡ là nguyên nhân dẫn đến đột quỵ. Bệnh có dấu hiệu cảnh báo nhưng đôi khi bị bỏ qua. Ví dụ, mí mắt của bệnh nhân bị sụp trong một vài tháng và đến bác sĩ nhãn khoa để nhận thuốc mà không thấy thuyên giảm, nhưng nguyên nhân của chứng phình động mạch não không được xem xét. Phó giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam cho biết, bệnh phình động mạch não thường gặp ở phụ nữ từ 40 đến 60 tuổi và hiếm gặp ở trẻ em.

Hầu hết chứng phình động mạch não không cần bất cứ thứ gì. Chỉ điều trị các túi sưng nhỏ khi chỗ sưng to lên hoặc các cơ quan xung quanh bị áp lực.

Khi u nang to ra mà không bị vỡ hoặc bị bóp, các triệu chứng bao gồm nhức đầu, sụp mí mắt, mờ mắt hoặc mù. Bệnh nguy hiểm nhất khi vỡ ra có thể khiến máu chảy lên não, đau đầu dữ dội, nôn, buồn nôn, tê liệt, hôn mê và hôn mê.

Theo bác sĩ, “Nguyên nhân của chứng phình động mạch là não không rõ nguyên nhân. Khi bệnh nhân bị chấn thương, nhiễm trùng, cao huyết áp, hút thuốc lá hoặc mắc bệnh thận sẽ tăng nguy cơ bị phình. Một số ít trường hợp phình mạch não là do di truyền. Tình dục Ảnh: Bệnh viện cung cấp.

Theo bác sĩ Nguyễn Ngọc Cường, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, có nhiều phương pháp chẩn đoán giúp phát hiện các bất thường mạch máu não chỉ với các bước đơn giản khi phát hiện và thực hiện Trong quá trình can thiệp và điều trị sớm, khả năng hồi phục và không chịu di chứng thần kinh.

Filed under: Các bệnh

Thực phẩm không tốt cho người cao huyết áp

Bác sĩ Trần Thị Hương Lan, giáo viên Học viện Y Dược học cổ truyền cho biết, đối với người bệnh cao huyết áp, việc điều trị luôn bắt đầu từ việc điều chỉnh chế độ ăn uống, sinh hoạt. Thực phẩm có hại cho bệnh cao huyết áp — muối — Bệnh nhân cao huyết áp không ăn mặn và mặn, cũng không ăn thực phẩm có nhiều natri như tôm khô, trứng vịt muối và thịt. Bông … hạ độ mặn làm giảm huyết áp từ 2 mmHg xuống 8 mmHg.

Bệnh nhân cao huyết áp không ăn mặn và đồ mặn. Ảnh: thestar.com.my

Nhu cầu natri hàng ngày của người lớn là khoảng 200 mg. Nói chung, một người bình thường thường tiêu thụ 4-6 gam natri hoặc 10-15 gam muối. Người bị huyết áp cao nên ăn ít hơn 6 gam muối mỗi ngày (khoảng dưới 2 thìa cà phê). Trên thực tế, lượng muối hầu như có trong nhiều loại thực phẩm và đồ uống, vì vậy không dễ để biết cách giảm lượng muối ăn vào dưới 6g muối mỗi ngày, vì vậy cần đạt được mức độ giảm muối như sau: — + Biện pháp giảm thiểu: Loại bỏ các loại nước chấm trên bàn ăn như nước mắm, nước tương, nước tương, nước thịt, muối tiêu và bột canh … Hạn chế ăn mặn như tương, tương, mắm, dưa, cà, trứng muối, Cá khô…, các loại thực phẩm chế biến sẵn như cháo, phở, mì gói, bảo quản, xúc xích, bánh mì thức ăn cho trẻ em. Bạn có thể giảm 3 đến 5 gam muối mỗi ngày.

+ Giảm vừa phải: loại bỏ hoàn toàn thức ăn mặn và thức ăn chế biến sẵn. Bằng cách này, bạn có thể giảm từ 6-10 gam muối mỗi ngày.

+ Giảm nghiêm ngặt: Ngoài việc theo dõi mức giảm trung bình, tuyệt đối không thêm muối, đậu nành, natri glutamat … – chất béo () – tránh ăn nhiều đồ chiên rán và hạn chế thịt mỡ trong quá trình nấu nướng Da, nội tạng động vật, nước dùng, bơ thực vật, phô mai, lòng đỏ trứng, thịt vịt, dầu dừa, chất béo bão hoà trong dầu cọ …- cacbohydrat-kẹo, mứt, soda và đồ ngọt khác. Xoài, mít, nhãn và vải tươi hoặc trái cây sấy khô và các loại đồ ngọt khác cần ăn kiêng hoặc ăn kiêng rất hạn chế. Các loại tinh bột như cơm, bún, phở… là những thực phẩm nên ăn điều độ, không nên ăn quá nhiều, nên ăn thành ba bữa. Thịt cừu, dê và chó sẽ làm tăng cholesterol và thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch, do đó làm tăng huyết áp.

Thực phẩm đã qua chế biến

Hạn chế thịt xông khói, thịt xông khói, v.v. Do hàm lượng muối cao trong xúc xích, xúc xích và chất bảo quản có thể làm tăng huyết áp và nguy cơ ung thư ruột kết.

Chất kích thích

Cà phê, trà, rượu, gia vị (ớt, hạt tiêu) đều là những thực phẩm có ảnh hưởng lớn đến bệnh cao huyết áp. Là chất kích thích thần kinh, bồn chồn, mất ngủ, rối loạn nhịp tim …- thực phẩm có lợi cho bệnh nhân tăng huyết áp- rau quả chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất. Các loại vitamin giúp ngăn ngừa huyết áp cao bao gồm vitamin C và E trong cam, cam, bưởi và táo. Vitamin C có thể làm giảm cholesterol, tăng tính đàn hồi của mạch máu, vitamin E trong bơ, dâu tây, thanh long, lúa mì… có tác dụng chống oxy hóa mạnh, ngăn ngừa nhiều axit béo không no, đảm bảo sự suy giảm của màng tế bào, chống xơ cứng động mạch. – Thuốc an thần có tác dụng nhất định đối với sự phát triển của bệnh cao huyết áp, bệnh mạch vành tim và tăng lipid máu. Kali là chất giúp giảm tác động của muối lên thành mạch trong chuối, dưa hấu và các hợp chất thơm. Rau xanh, trái cây cung cấp chất xơ ngăn ngừa táo bón, đây cũng là bệnh thường gặp. Bệnh nhân cao huyết áp.

Cá nên thay thế thịt, nhiều hoa quả và rau xanh. Ảnh: Serotonin – loại ngũ cốc gốc – lương thực chính, như gạo lứt, ngô, bọ chét, yến mạch, bánh mì đen … cung cấp chất xơ và vitamin B, hàm lượng chất xơ nên vượt quá 15 gam mỗi ngày. Ngoài tác dụng chống táo bón, chất xơ còn giữ lại cholesterol trong lòng ống tiêu hóa, hạn chế hấp thu cholesterol vào máu, giảm HDL, VLDL và triglycerid trong máu … ‘Xơ cứng động mạch, hỗ trợ tiêu hóa Tăng tiết axit mật. Vitamin B hỗ trợ quá trình trao đổi chất của tế bào, đặc biệt là tế bào thần kinh.

Chất đạm

Đối với đạm động vật, nên dùng cá thay cho thịt, cá chứa nhiều axit béo không no có tác dụng giảm cholesterol, ức chế hình thành cục máu đông ngăn ngừa đột quỵ.

Trong cá biển có chứa axit linolenic omega-3 rất dễ tiêu hóa và có thể làm tăng độ đàn hồi của các mao mạch. Một số tác dụng có thể ngăn ngừa các biến chứng do huyết áp cao gây ra. Tốt nhất nên ăn cá 2-3 lần / tuần. Đạm thực vật trong đậu, đậu nành, nấm và các loại thực vật khác …Sterol, nên thay đổi chế độ ăn từ chất béo bão hòa sang chất béo không bão hòa. Dầu ô liu, dầu hướng dương, đậu nành… thay mỡ, dầu dừa, đậu phộng. Thực phẩm nướng và hấp thay vì thực phẩm chiên rán… các sản phẩm từ sữa ít béo hoặc không có chất béo là nguồn cung cấp canxi dồi dào. Các nhà dinh dưỡng khuyên bệnh nhân cao huyết áp nên chọn sữa không béo, sữa chua ít béo hoặc không béo.

Phòng và điều trị cao huyết áp

– Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng .

– Giảm uống rượu bia và các chất kích thích .—— Không hút thuốc .—— Ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày.

– Thừa cân có thể giảm cân .

– Thường xuyên tập thể dục, thể thao, đối với bệnh nhân tăng huyết áp thì vận động tốt nhất là dưỡng sinh, yoga, Thái cực quyền, đi bộ … vừa phải, khoảng 30 đến 60 phút mỗi ngày.

– Tâm lý thái độ trong cuộc sống: giảm căng thẳng, nóng giận, lạc quan yêu đời giúp vượt qua bệnh tật, khó khăn trong cuộc sống .—— Khi điều trị đạt huyết áp mục tiêu dưới 130/80 mmHg thì cần Tiếp tục điều trị lâu dài tại các cơ sở y tế chuyên khoa, được theo dõi sát sao, tái khám thường xuyên và kịp thời. Le Pen

Filed under: Các bệnh

Ít hoặc không có nước tiểu Đề phòng viêm ống thận cấp tính

Hoại tử ống thận cấp là một bệnh thường gặp, chủ yếu liên quan đến hoại tử ống thận cấp tính (còn gọi là hoại tử ống thận cấp tính hoặc bệnh ống kẽ cấp tính).

BS Nguyễn Thụy Quỳnh Mai, trưởng khoa lọc máu của khoa miễn dịch thận, bệnh viện nhân dân 115 TPHCM cho biết, biểu hiện chính của bệnh này là tiểu ít hoặc không có. Đôi khi, nó có thể được phát hiện bởi các biến chứng nghiêm trọng khác (như tăng huyết áp, phù phổi hoặc phá hủy nước và điện giải của cơ thể hoặc hội chứng tăng acid uric máu).

Bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo. Ảnh: Minh Thùy .

Có nhiều nguyên nhân gây viêm ống thận cấp, có thể chia thành ba loại:

Sau thiếu máu:

Tất cả các nguyên nhân đều làm giảm lượng dịch truyền có thể hút ra. Thiếu máu thận và các thay đổi bệnh lý ở dạng hoại tử ống thận và được chia thành hai nhóm: sốc giảm thể tích: sau phẫu thuật, chấn thương, bỏng, sẩy thai, mất nước, mất muối, sốc nhiễm trùng, nhiễm độc, sốc tim .– -Thường xuyên sử dụng một số loại thuốc ở một số cơ địa đặc biệt có thể gây ra tác dụng phụ: thuốc không steroid, thuốc chống viêm, thuốc ức chế thụ thể ACEI khi dùng cho bệnh nhân hẹp động mạch thận hai bên. Trên cơ chế mạch máu, do đó trên thiếu máu thận. Nguyên nhân phổ biến gây độc: Thuốc kháng sinh, đặc biệt là aminoglycosid, là neomycin, và loại ít độc hơn là streptomycin, kanamycin và gentamicin. Thuốc cephalosporin gây độc cho thận nhất là ceftloridine. — So với các sản phẩm dựa trên i-ốt. — Thuốc chống ung thư: body, cyclosporin, interferon. Một số loại thuốc khác, chẳng hạn như phenylbutazone, các loại thuốc khác, chẳng hạn như phenylbutazone .—— thuốc hóa học, chẳng hạn như carbon tetrachlorocarbon (CCl4), methanol. Dị ứng:

Nó còn được gọi là viêm thận cấp do dị ứng thông thường vì những lý do sau: methicillin, penicillin, thuốc chống viêm không steroid, thuốc lợi tiểu, cimetidine.

Ngày nay, lọc máu ngoài thận đã làm giảm tỷ lệ tử vong rất nhiều. Nếu được điều trị sớm, hợp lý và thuận lợi, bệnh nhân sẽ không có di chứng gì. Tuy nhiên, chức năng của thận sẽ từ từ phục hồi sau vài tháng.

Dinh dưỡng khi bạn bị ốm

– Cố gắng ăn nhiều hơn .—— Đường uống (ví dụ, thức uống dinh dưỡng, bột protein, v.v.).

– Tìm các sản phẩm cung cấp calo và protein, natri, kali và phốt pho. Điều quan trọng là chọn sản phẩm phù hợp với bệnh nhân.

– Ăn ít chất đạm, calo chứa nhiều carbohydrate và chất béo.

– Không ăn thực phẩm nhiều kali, chẳng hạn như rau và trái cây.

Hạn chế muối và nước, chỉ dùng 500-700 ml nước mỗi ngày.

– Cho ăn bằng ống thông dạ dày.

Phòng bệnh

– Cẩn thận khi sử dụng thuốc, đặc biệt là một số loại thuốc giảm đau chưa rõ liều lượng, tính chất.

– Cẩn thận trong quá trình truyền máu, kiểm tra kỹ và so sánh nhóm máu trước khi truyền .

Lê Phương

Filed under: Các bệnh

Nhiễm trùng sau mổ lấy thai

Bác sĩ sản phụ khoa Đỗ Tiến Dũng – Bộ Bưu chính Viễn thông Hà Nội cho biết, ca mổ đẻ được thực hiện trong điều kiện như hung thủ, mẹ có khối u ở tử cung, buồng trứng hoặc có nguy cơ bị giật, đứng trước sinh, khung chậu bất thường, có vết mổ trong tử cung .. Sau khi sinh, sản phụ tiếp tục ở lại bệnh viện từ 3 đến 4 ngày để được theo dõi và chăm sóc điều dưỡng nhằm tránh các biến chứng hoặc di chứng. Theo các bác sĩ, nhiễm trùng vết mổ là tình trạng tai biến sản khoa thường gặp nhất. Bác sĩ Đồng cho biết: “Dù có cải tiến và hoàn thiện phương án điều trị sau mổ nhưng không bác sĩ sản khoa nào đủ gan để chứng minh 100% không lây nhiễm”. “Còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, kể cả những trường hợp ngoài tầm kiểm soát như cơ địa chẳng hạn”. . Thông thường vi khuẩn gây nhiễm trùng vết thương là Streptococcus, Staphylococcus, Bacillus, vi khuẩn kỵ khí… Chúng thường tồn tại ở môi trường xung quanh, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ xâm nhập vào cơ thể người qua vết thương hở và gây nhiễm trùng. . Mức độ viêm nhiễm phụ thuộc vào sức khỏe của thai phụ, độc tính của vi khuẩn mà thời gian phát hiện và điều trị sớm hay muộn. Sốt 38-39 độ, vết mổ chảy nước, vùng bụng dưới đau hoặc nhức, nhất là xung quanh vết mổ, đau tức ngực … BS Dũng (phải) cùng ca mổ đẻ tại Bệnh viện Bưu điện. Ảnh: Bệnh viện cung cấp

Thông thường, những ngày đầu sau sinh mổ, thai phụ sẽ được y tá chăm sóc và thay đồ hàng ngày. Trong quá trình này, bác sĩ kê đơn thuốc kháng sinh, thuốc co tử cung và thuốc giảm đau cho mẹ.

“Nếu xử lý vết mổ đúng cách, mẹ có thể khỏi chỉ trong 1-2 ngày. Giảm đau có thể tránh nhiễm trùng vết mổ. Và các biến chứng nguy hiểm khác”, bác sĩ Đồng nói.

Sang tuần thứ 2 sẽ kiểm tra lại vết mổ và tiến hành cắt dây. Sau đó, sản phụ tiến hành phẫu thuật vết mổ tại nhà một mình. Cách chăm sóc vết mổ là tắm sạch sau đó lau khô nước xung quanh vết mổ. Để tránh nước vào vết mổ khi tắm, bạn dùng Betadin hoặc dung dịch Povidin 10% thấm lên bề mặt vết mổ cần sát trùng để giúp vết thương nhanh lành, tránh nhiễm trùng.

Không nên dùng băng quấn kín vết thương, hãy mở ra mở ra, vết thương sẽ nhanh lành hơn. Tránh rau chân vịt, lòng đỏ trứng và các thực phẩm dính vì chúng có thể gây sẹo lồi. Sau khi vết thương lành hẳn mới dùng kem điều trị.

Tránh làm việc nặng nhọc. Hãy dành chút thời gian để nghỉ ngơi và chăm sóc bản thân cho đến khi vết mổ lành.

Bác sĩ khuyến cáo sản phụ nên tiếp tục sinh mổ và tắm rửa như bình thường, miễn là băng kín hoặc tránh vùng vết mổ. Tắm không chỉ làm sạch cơ thể mà còn giúp mẹ bầu thư giãn, tránh căng thẳng sau sinh. Khi tắm không sờ hay chà xát vết mổ, lau khô người, dùng bông lau khô vùng xung quanh vết mổ. Không bôi bất kỳ loại kem nào cho đến khi vết thương lành hẳn.

Theo bác sĩ, thời điểm lý tưởng để mang thai lại sau khi sinh mổ là 18 đến 23 tháng trước khi sẹo tử cung có thể chữa khỏi. Ăn mặc gọn gàng. Phụ nữ mang thai trên 35 tuổi có thể thụ thai sớm hơn, nhưng hãy hỏi ý kiến ​​bác sĩ trước khi có ý định sinh con.

Phụ nữ mang thai lần 3 sau sinh hai nguy cơ cao, cần theo dõi thai kỳ cẩn thận để hạn chế những tai biến, biến chứng có hại cho cả mẹ và con.

Thực tế, mỗi phụ nữ có tình trạng sức khỏe khác nhau. Thời gian hồi phục sau mổ lấy thai cũng khác nhau. Hầu hết mọi người sẽ cảm thấy nhẹ nhõm sau khi đi bộ vài ngày và sẽ hồi phục hoàn toàn sau 6 tuần nghỉ ngơi hợp lý.

Nếu vết thương căng, nhiễm trùng hoặc bất thường, người phụ nữ cần. Các bác sĩ đã nhanh chóng kiểm tra và điều trị.

Filed under: Các bệnh

Người già dễ bị đột quỵ khi trời lạnh

Bác sĩ Trần Quang Thắng, Giám đốc Khoa Cấp cứu Tai biến mạch máu não Bệnh viện Lão khoa Trung ương cho biết, lạnh là nguy cơ chính đối với người cao tuổi, người có tiền sử tăng huyết áp, đột quỵ, tai biến mạch máu não có thể dẫn đến nguy cơ tử vong nếu không được điều trị. Vào mùa lạnh, số người nhập viện vì đột quỵ trung bình chiếm từ 70% đến 80% tổng số bệnh nhân trong năm đó.

Tai biến mạch máu não là bệnh cấp tính, có thể xảy ra bất cứ lúc nào mà không báo trước. Đột quỵ ban đầu thường bắt đầu với chóng mặt, lệch, yếu, liệt tay và chân, đi lại không ổn định hoặc biến dạng miệng, nói khó, ngạt thở, nghẹt thở, mờ mắt và các triệu chứng khác. ..

Các bác sĩ cho biết có hai dạng đột quỵ là đột quỵ do thiếu máu cục bộ (80%) và vỡ mạch máu não. Tất cả chúng đều làm hỏng các mạch máu trong não. Bệnh gặp hầu hết ở người già và trẻ, tuy nhiên người cao tuổi có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ hơn.

Trong bệnh tai biến mạch máu não do thiếu máu cục bộ, khi tuổi càng cao, mạch máu của người già bị xơ cứng có khả năng chống ánh sáng mạnh và chống lại các bệnh chuyển hóa như tiểu đường, mỡ máu … Trời lạnh, cơ chế tự điều hòa của tuần hoàn não ở người già kém đi. Ngoài ra, người cao tuổi bị tăng huyết áp lâu ngày là nguyên nhân chính dẫn đến đột quỵ.

Thông thường người cao tuổi mắc một số bệnh và sức đề kháng giảm sút nên cơ chế điều hòa mạch máu não kém. Đôi khi đột ngột ngồi xuống, cộng với cảm lạnh vào nửa đêm có thể gây ra đột quỵ.

Trẻ hay già đều có các triệu chứng giống nhau, mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào vị giác và mức độ tổn thương não. Các triệu chứng của người già không nặng như người trẻ, dẫn đến việc phát hiện bệnh chậm và đến bệnh viện muộn. Đôi khi người bệnh không biết rằng mình mắc bệnh này. Sức khỏe cộng đồng. Trước đây, bệnh này thường gặp ở nam giới trên 55 tuổi và nữ giới trên 50. Hiện nay bệnh nhân ngày càng trẻ hóa.

Có nhiều yếu tố liên quan đến đột quỵ, bao gồm tăng huyết áp, các bệnh chuyển hóa như đái tháo đường, đái tháo đường, béo phì, tăng lipid máu và hút thuốc lá. , Lối sống ít vận động, làm việc không lành mạnh, căng thẳng… đây là những bệnh thường gặp của người cao tuổi. Chỉ những bệnh nhân đột quỵ trẻ tuổi cũng liên quan đến yếu tố di truyền, với các bất thường về mạch máu hoặc tình trạng đông máu, dẫn đến tăng nguy cơ vỡ hoặc tắc nghẽn mạch máu. Khuyến cáo người trung niên và cao tuổi nên giữ ấm khi đi ngủ và ra khỏi phòng (kể cả đi bộ buổi sáng) để tránh bị cảm lạnh đột ngột. Đi ngủ, dậy đúng giờ, tập thể dục, uống nhiều nước khi thức dậy vào buổi sáng và ăn đủ chất trong ngày, đặc biệt là bữa sáng. Ăn nhiều rau xanh, trái cây, đậu nành, nhiều cá, ít thịt. Sử dụng lượng muối và chất béo thích hợp trong thức ăn, bỏ thuốc lá, hạn chế uống rượu bia …

Các biện pháp sơ cứu khi bị đột quỵ là kê cao đầu, nôn nằm nghiêng, giữ đầu óc tỉnh táo. Không bao giờ cho bệnh nhân uống bất kỳ loại thuốc nào, kể cả nước và gọi đến phòng cấp cứu.

“Thời điểm quan trọng nhất để bệnh nhân nhồi máu não sử dụng thuốc điều trị tuần hoàn não là trong vòng 4,5 giờ sau khi khởi phát. Bệnh nhân bị tắc mạch nặng có thể tham gia khởi phát nhiều giờ trong vòng 6 tuần. Nếu để muộn sẽ có nguy cơ để lại di chứng nặng nề”, bác sĩ Đường Nói. Tại Viện Lão khoa Quốc gia, tỷ lệ bệnh nhân đột quỵ được đưa vào cấp cứu trong giờ vàng là rất thấp. Năm 2016, chỉ có 1,5% bệnh nhân nhập viện trong thời gian quan trọng đã được dùng thuốc. Trong số gần 7.000 bệnh nhân được điều trị, tỷ lệ này tăng lên 2,5% vào năm 2017 và 3,5% vào năm 2018.

Filed under: Các bệnh

7 bệnh nam khoa không nên chủ quan

Mọi người nghĩ rằng một số bệnh là riêng của phụ nữ và bỏ qua nguy cơ của mình, điều này khiến nam giới gặp nhiều rủi ro. Sự khác biệt về cấu tạo gen, giải phẫu và nội tiết tố làm cho một số bệnh có nguy cơ lây nhiễm cho phụ nữ hơn nam giới. Tuy nhiên, việc đánh đồng những căn bệnh phổ biến nhất ở phụ nữ với “bệnh phụ nữ” có thể khiến nam giới dễ bị ảnh hưởng đến sức khỏe. Những “bệnh phụ nữ” dưới đây sẽ giúp nam giới nhận biết bệnh sớm và điều trị nhanh chóng.

Nam giới không nên chủ quan với các bệnh thường gặp ở nữ giới. Ảnh: foxnews.com .

1. Loãng xương-Loãng xương có thể làm giảm mật độ xương, yếu và dễ gãy. Do ảnh hưởng của thời kỳ mãn kinh, 1/3 phụ nữ có nguy cơ loãng xương nhanh chóng. Ở nam giới, tỷ lệ mắc bệnh cao tới 1/5, và tỷ lệ mắc bệnh loãng xương ở những người từ 65 đến 70 tuổi tương tự như ở phụ nữ sau mãn kinh.

Ngoài ra, các bệnh về thận và tuyến giáp, thiếu La vitamin D, lạm dụng steroid, điều trị ung thư … cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Các biểu hiện của loãng xương có thể không rõ ràng, do đó nên thực hiện kiểm tra mật độ xương thường xuyên để có phản ứng sớm.

2. Ung thư vú

Do đặc điểm cơ thể cấu tạo nên bộ ngực phụ nữ mà ngày càng nhiều phụ nữ mắc bệnh ung thư vú và các tuyến ngày càng phát triển mạnh mẽ. Mặc dù chỉ ảnh hưởng đến 1% nam giới nhưng theo thống kê, tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú của nam giới đang tăng cao.

Do chủ quan nên một số nam giới ít để ý đến những biểu hiện bất thường này. ngực. Đây là điều kiện để ung thư âm thầm phát triển. Do đó, ngay khi phát hiện ra thì ung thư đã ở giai đoạn cuối, việc điều trị khó khăn, tỷ lệ sống thường không cao.

Đàn ông trên 50 tuổi, béo phì, hút thuốc lá, ăn uống thất thường, ăn nhiều nguy cơ, nhiều chất béo, ít chất xơ. Các chuyên gia khuyên nam giới nên cẩn thận khi phát hiện vùng da ngực nổi cục hoặc đổi màu bất thường.

3. Các vấn đề về tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết quan trọng, nằm ở phần dưới cổ, có chức năng điều hòa chuyển hóa hormone .—— Nếu hormone tiết ra quá nhiều, cường giáp sẽ gây ra các triệu chứng sau: mệt mỏi, Giảm cân bất thường hoặc ăn quá nhiều, tim đập nhanh, khó chịu, lo lắng, rối loạn giấc ngủ, không có khả năng chống lại nhiệt độ cao, yếu cơ và đổ mồ hôi nhiều. ..

Ngược lại, nếu hormone tuyến giáp tiết ra chậm sẽ dẫn đến suy giáp, biểu hiện là mệt mỏi dai dẳng, không chịu được lạnh, chán ăn, trầm cảm, da khô, móng tay giòn, rụng tóc, đau khớp … — Nguy cơ phụ nữ mắc bệnh tuyến giáp cao gấp 8 lần nam giới, nhưng cần hiểu rằng đây không phải là bệnh “phân biệt giới tính”.

4. Rối loạn ăn uống

Ngày càng có nhiều nạn nhân của chứng rối loạn ăn uống. Mặt khác, bệnh nhân nam thường không muốn điều trị nên dễ bị biến chứng phức tạp như bệnh tim, suy giảm chức năng nội tạng, giảm mật độ xương, thậm chí tử vong.

Cấm vận động viên, thanh thiếu niên béo phì, có vấn đề về tình dục 5. Viêm bàng quang Viêm bàng quang là bệnh thường gặp ở phụ nữ, nhưng nam giới cũng không loại trừ nguy cơ này, đặc biệt ở những bệnh nhân bị phì đại tuyến tiền liệt, sỏi thận hoặc bất thường niệu đạo . Thuốc kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị hiệu quả bệnh, nhưng điều quan trọng vẫn là nhận biết các triệu chứng càng sớm càng tốt. Thường xuyên đi tiểu, nóng rát khi đi tiểu, nước tiểu có mùi hôi hoặc chảy máu, có mủ, sốt nhẹ, đau dai dẳng sau khi đi tiểu, v.v.

6. Trầm cảm – Tỷ lệ phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm cao gấp đôi nam giới. Trầm cảm ở phụ nữ thì khác. Phụ nữ thường buồn và khóc nhiều, trong khi đàn ông dễ nổi nóng, kích động và trầm cảm.

Ở trạng thái này, nam giới thường cố gắng thoát khỏi ma túy, rượu hoặc đau đớn. Các hành vi nguy hiểm khác không cần trợ giúp y tế. Họ cũng thường có ý định tự tử với tỷ lệ thành công cao.

7. Bệnh lupus

Thống kê cho thấy 90% bệnh nhân lupus là phụ nữ. Tuy nhiên, nam giới cần luôn chú ý đến các triệu chứng của bệnh tự miễn này như sưng đau khớp, yếu cơ, cảm thấy rất mệt mỏi, không rõ nguyên nhân, rụng tóc, phù chân hoặc mạch. Xung quanh mắt, lở miệng, phát ban, thường ở mặt. -Thu Hiền (theo Fox News)

Filed under: Các bệnh

Phụ nữ sinh nhiều con dễ mắc bệnh tim

Theo một nghiên cứu mới của Trung tâm Y tế Đại học Texas (Mỹ), sau khi sinh con thứ 3, việc lao động nặng ở mỗi giai đoạn sẽ làm tăng nguy cơ dày thành động mạch, khiến phụ nữ dễ mắc các bệnh lý. tim. Các mối đe dọa về mạch máu. Do những thay đổi trong cơ thể, hệ thống tim mạch của phụ nữ phải chịu áp lực. Ảnh: telegraph.co.uk

Lần mang thai trước có liên quan đến bệnh tim. Kết quả là trong giai đoạn này, hệ thống tim mạch của phụ nữ mang thai phải chịu áp lực rất lớn do những thay đổi trong cơ thể, ví dụ như lượng máu lưu thông về tim tăng lên 50%. Thông qua nghiên cứu này, các nhà khoa học bắt đầu tìm cách số lượng trẻ em ảnh hưởng đến các dấu hiệu đầu tiên của bệnh tim mạch.

Trong số 1.664 phụ nữ có độ tuổi trung bình là 45, nghiên cứu này là nghiên cứu đầu tiên nghiên cứu về mức độ bệnh tim mạch. Xơ vữa động mạch và thu hẹp đối tượng tham gia. Đây là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim gây tắc nghẽn động mạch và đột quỵ. Kết quả xét nghiệm canxi động mạch vành (CAC) và độ dày thành mạch (AWT) cho thấy những phụ nữ đã sinh từ 4 lần trở lên gần như có nguy cơ có kết quả bất thường cao gấp đôi. – Ngay cả khi tính đến các yếu tố kinh tế, xã hội, dân tộc hoặc các yếu tố khác được cho là nguyên nhân gây ra sự gia tăng bệnh tim mạch, mối liên hệ này vẫn sẽ tiếp tục. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy phụ nữ không có con hoặc sinh một con dễ bị xơ vữa động mạch cận lâm sàng hơn.

Tác giả cao cấp của “Tác giả”, Tiến sĩ Monika Sanghavi cho biết: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi càng chứng minh tác động của những thay đổi khi mang thai đối với phụ nữ mang thai. Nghiên cứu chỉ ra:” Có nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong tương lai. Mối quan hệ này đáng được quan tâm hơn. Tuy nhiên, Tiến sĩ Monica nói rằng nghiên cứu không khuyến nghị phụ nữ chỉ có hai hoặc ba con. Tác giả cũng hy vọng rằng nghiên cứu có thể được sử dụng như một đối tượng nghiên cứu. Để hiểu rõ hơn về bản chất của bệnh tim bằng cách xác định các nguyên nhân cơ bản, các biện pháp phòng ngừa và điều trị thích hợp cho những người dễ bị tổn thương sẽ nhanh chóng được áp dụng. – Khánh Hà (Theo Thenews-uk)

Filed under: Các bệnh

Đột quỵ có di truyền không?

Bác sĩ Phan Nguyễn Liên Anh, chuyên gia tư vấn chuyên môn của Trung tâm Công nghệ Y tế DNA cho biết, những thành viên trong gia đình có nhiều gen, lối sống, môi trường đều có nguy cơ mắc bệnh như nhau. Trong một số gia đình, nguy cơ đột quỵ có thể cao hơn những người khác.

Đột biến gen làm tăng nguy cơ rung nhĩ, tiểu đường và huyết áp cao là những bệnh gây ra đột quỵ. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nghiên cứu di truyền có thể giúp phân biệt các loại đột quỵ và hỗ trợ quản lý bệnh nhân. Ví dụ, có mối liên quan giữa sự biến đổi gen làm tăng nguy cơ rung nhĩ và đột quỵ, vì vậy xét nghiệm di truyền có thể giúp chẩn đoán đột quỵ là do rung nhĩ.

“Các yếu tố nguy cơ thường giống nhau. Bác sĩ Liên Anh cho biết:” Tương tác có thể dẫn đến đột quỵ, và nó được chia thành hai loại: dễ bay hơi và không hồi phục. “Tuổi tác, giới tính và chủng tộc là những yếu tố nguy cơ không thể đảo ngược, trong khi các bệnh lý có từ trước, lối sống và dinh dưỡng có thể thay đổi. Các yếu tố di truyền (đặc biệt là những yếu tố tương tác với môi trường) gần đây đã thay đổi.

Phòng ngừa đột quỵ thường Tập trung vào các yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được, chẳng hạn như thay đổi lối sống và hành vi, thay đổi chế độ ăn uống hoặc bỏ thuốc lá. Điều này không chỉ làm giảm nguy cơ đột quỵ mà còn giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch khác. Cần phát hiện và điều trị các bệnh làm tăng nguy cơ đột quỵ Như cao huyết áp, tiểu đường, rung nhĩ. Đột quỵ như rung nhĩ, tiểu đường, cao huyết áp nên đi khám sức khỏe định kỳ, tầm soát gen để biết khả năng mắc các bệnh này. Phát hiện sớm có thể giúp mọi người thay đổi lối sống Giảm thiểu rủi ro.

Tại Việt Nam, đột quỵ là nguyên nhân chính gây tử vong, nhiều người sống sót nhưng họ cũng bị di chứng nặng nề, tàn tật, mất khả năng chăm sóc. Đây được coi là một trường hợp cấp cứu cần chẩn đoán kịp thời và Điều trị .—— Bệnh nhân đột quỵ có thể đột ngột bị tê hoặc yếu ở mặt, tay hoặc chân. Đặc biệt khi các triệu chứng xuất hiện ở một bên cơ thể, miệng méo, đột ngột không nói được hoặc không nói được, mờ mắt, nhức đầu, chóng mặt, Khi mất thăng bằng … – LêPhương

Filed under: Các bệnh

Chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách

Đối với trẻ sơ sinh, việc chăm sóc rốn đúng cách là rất quan trọng. Dây rốn vẫn còn trong bụng mẹ, nơi truyền chất dinh dưỡng và oxy quý giá từ mẹ sang thai nhi, để bé lớn lên từng ngày. 10 tháng sau khi sinh con, 9 tháng sau, bác sĩ sẽ cẩn thận cắt dây rốn cho bé, nên giữa mẹ và con có một sợi dây liên kết kỳ diệu, còn bây giờ thì không còn gì nữa. Dây rốn dài của Huibi. 4-5 cm .

Rốn thường rụng trong vòng 7-10 ngày sau khi sinh, và sau 15 ngày thì cuống rốn lành hẳn. Nếu nó không lành lại, dây rốn là một lối vào quan trọng của nhiễm trùng tại chỗ, và nhiễm trùng do vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu, dẫn đến nhiễm trùng huyết và thậm chí tử vong của em bé. Nếu không được phát hiện và điều trị. Việc chăm sóc rốn cho trẻ sơ sinh kịp thời hàng ngày là vô cùng quan trọng, các gia đình có thể làm theo hướng dẫn dưới đây để thực hiện tại nhà:

Hình minh họa: Lifepregnancy.com

– Đầu tiên. Chuẩn bị dụng cụ để chăm sóc rốn

– gạc vô trùng.

— cồn 70 độ đóng chai .—— gạc vô trùng .—— 2. Các bước chăm sóc rốn như sau– — Rửa tay thật sạch bằng xà phòng và nước .—— Tháo dây rốn cho em bé .—— Quan sát rốn và vùng da xung quanh xem có dấu hiệu bất thường không .—— Dùng dung dịch 70 độ để rửa hoặc khử trùng cho bạn Tay.

– Dùng gạc tẩm cồn sát trùng rốn theo thứ tự:

+ chân rốn .—— + thân rốn. — – + mặt cắt rốn .—— + rốn từ Bao quanh vùng da từ trong ra ngoài, rộng khoảng 5 cm .—— Thay tăm bông khác mỗi khi sát trùng .—— Trong vòng vài ngày sau 2 lần, bạn không cần băng rốn sau khi điều trị để làm khô nhanh. Nếu rốn vẫn còn ướt, có thể quấn băng gạc lại.

Nếu mẹ không biết cách giữ rốn có thể nhờ nhân viên y tế cho con về nhà tư vấn.

3. Nếu có các dấu hiệu sau, trẻ nên đến cơ sở y tế khám:

– Rốn sưng tấy đỏ .—— Sau khi ngã, rốn chảy mủ và có thể còn ướt. – Rốn có mùi khó chịu .—— Vùng da quanh rốn tấy đỏ .—— Rốn chảy máu .—— 4. Tránh làm những việc sau khi chăm sóc rốn cho trẻ

Băng rốn quá chặt vì Có thể gây nhiễm trùng rốn.

– Bôi hoặc bôi bất kỳ chất gì lên rốn, vì có thể gây nhiễm trùng rốn, và cả hai chất này đều có thể gây ngộ độc (như thuốc phiện so với thuốc phiện) hoặc thuốc đỏ gây ngộ độc thủy ngân. – Bác sĩ Nhi khoa Nguyễn Đức Thường

Filed under: Các bệnh